Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2021

Cảnh giới cao nhất trong Tây Du Ký mấy ai biết

  Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân viết: “Dục trị tạo hóa hội nguyên công, tu khán Tây Du thích ách truyện”, ý nói rằng: Muốn biết công của tạo hóa ra sao, muốn hiểu được ý nghĩa của đời người thế nào, vậy cần phải hiểu Tây Du Ký.



  Nếu bạn có thể thật sự hiểu được Tây Du Ký, vậy thì bạn đã thấu hiểu  mọi khổ nạn trên thế gian, cũng là hiểu được ý nghĩa thật sự của cuộc đời này.

   Cũng có người cho rằng, Tây Du Ký xứng đáng ở vị trí đầu tiên trong tứ đại danh tác, hơn nữa đó còn là tác phẩm vĩ đại nhất trên thế gian.

  Bề mặt là câu chuyện thầy trò Đường Tăng cùng đi Tây Thiên thỉnh kinh và trừ yêu diệt quái, nhưng thật ra nội hàm chân chính của Tây Du Ký là con đường hàng phục ma tính của một người tu hành. Thông qua câu chuyện thần thoại sang Tây Thiên thỉnh kinh, tác giả đã dẫn dắt chúng ta cách khắc phục nội tâm trên con đường nhân sinh, hàng phục tâm ma, cuối cùng lấy được Chân Kinh, thành tựu đời người

      5 người là 1

  Trong Tây Du Ký, năm vị gồm bốn thầy trò Đường Tăng cùng với Bạch Long Mã, thật ra chỉ là một người, trong truyện cũng nhiều lần ám chỉ về điều này. Đoạn cuối cùng của tác phẩm khi viết đến “Ngũ Thánh thành chân” có một bài thơ nói rõ hơn ý tứ đó, trong đó bốn câu mở đầu là:

Một thể chân như lạc xuống trần,
Hợp hòa bốn tướng lại tu thân.
Ngũ hành sắc tướng không rồi tịch,
Trăm quái hư danh thấy chẳng bàn”.

  Trong đó, Tôn Ngộ Không là tượng trưng cho cái tâm, Đường Tăng là thân thể, Trư Bát Giới là tình cảm và dục vọng, Sa hòa thượng là bản tính, và Bạch Long Mã là ý chí của con người.

  Thực ra, tác giả đã nói rõ điều này trong những chương hồi đầu tiên của tác phẩm. Tôn Ngộ Không khi tầm sư học đạo trở thành đệ tử của Bồ Đề Tổ Sư trên núi Linh Đài Phương Thốn, động Tà Nguyệt Tam Tinh. Ở đây, Tà Nguyệt Tam Tinh (trăng khuyết và ba vì sao) chính là chữ “Tâm” (心). “Tà Nguyệt” chẳng phải chính là một nét móc đó sao? Ba ngôi sao chẳng phải chính là chỉ ba nét chấm đó sao? Vậy nên, Tôn Ngộ Không là thể hiện cho chữ Tâm của người tu hành



  Người Trung Hoa có câu: “Tâm viên ý mã” (tâm con vượn, ý con ngựa), nghĩa là tâm trí con người ta thường xáo động và dễ mất kiểm soát. Cũng bởi vì tâm người luôn bay nhảy tự do như vậy, nên tư tưởng con người có thể qua lại giữa thiên đường và địa ngục, có thể dao động giữa thiện và ác. Vì vậy, về sau này Quan Âm Bồ Tát đã phải tặng cho Đường Tăng chiếc vòng kim cô và bài “Khẩn cô nhi chú” để khắc chế cái tâm này.

   Trong Kinh Lăng Nghiêm còn viết rằng: “Tâm có 72 tướng”, tương ứng với 72 phép biến hóa của Ngộ Không. Cái tâm của người đời rất giỏi biến hóa, chỉ trong chốc lát có thể biến ra các loại tâm thái khác nhau.

  Luyện tâm có thể khiến lòng người sáng sủa, trí huệ sáng suốt, vậy nên lò Bát Quái không thể thiêu chết mà trái lại còn khiến Tôn Ngộ Không luyện thành hỏa nhãn kim tinh. Mắt của Ngộ Không sáng tỏ là tượng trưng cho trí huệ sáng rực như vàng kim.

  Bên cạnh đó, chiếc gậy Như Ý và Cân Đẩu Vân của Ngộ Không cũng ẩn chứa những hàm nghĩa sâu sắc.Gậy Như Ý nặng 1 vạn 3 nghìn 5 trăm cân, giống với những điều được viết trong Hoàng Đế Bát Thập Nhất Nan Kinh: “Cả ngày lẫn đêm, con người ta thở 1 vạn 3 nghìn 5 trăm nhịp”. Vậy nên, gậy Như Ý là tượng trưng cho khí.

  Trên đời này, thứ gì có thể “trên thì lên đến 33 tầng trời, dưới thì xuống tới 18 tầng địa ngục; lớn thì có thể thông thấu khắp trời, nhỏ thì như cái kim thêu”? Chính là khí độ của con người.

  Cân Đẩu Vân của Tôn Ngộ Không lộn nhào một cái là đi được 10 vạn 8 nghìn dặm, nhưng lại không thể nhảy ra khỏi lòng bàn tay của Phật Như Lai. Đó là nói, con người dẫu làm gì thì cũng không thể thoát khỏi bàn tay của Phật Tổ

  Cân Đẩu Vân của Ngộ Không có thể bay 10 vạn 8 nghìn dặm, vừa khéo lại là khoảng cách từ đông thổ Đại Đường đến Linh Sơn, điều này có ngụ ý gì? Đó chính là: Linh Sơn dù có xa hơn nữa thì cũng chỉ một niệm của tâm là có thể đến nơi. Thiện ác chỉ cách nhau một niệm, một niệm có thể thành Phật, nhưng một niệm cũng có thể biến thành tà ma.

 Tôn Ngộ Không bị giam dưới núi Ngũ Hành suốt 500 năm, tượng trưng cho cái tâm lên trời xuống đất của con người bị Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ trong thế giới trần tục đè chặt.

  Núi Ngũ Hành cũng tượng trưng cho “tham (tham lam), sân (giận dữ), si (ngu si), mạn (ngạo mạn), nghi (hoài nghi)” trong Phật học. Phật Tổ nói rằng, 5 chữ ấy đã khái quát mọi tâm niệm thân hành của con người. Dù Ngộ Không có thần thông quảng đại đến đâu, vẫn không nhảy ra khỏi 5 chữ này. Tôn Ngộ Không khi đại náo Thiên Cung, cũng chính là bị ngũ độc này vây khốn.

  Về sau, khi thầy trò Đường Tăng đến Hoả Diệm Sơn, núi Ngũ Hành đã trở thành Lưỡng Giới Sơn (ngọn núi giữa hai ranh giới). Đi qua ngọn núi này, cái tâm từng xáo động không yên đó cuối cùng cũng có thể nhảy ra khỏi Tam Giới.

  Bạch Long Mã là ý chí lực. Ý chí của con người giống như ngựa hoang, chỉ khi xác định được mục tiêu tiến tới, mới có thể chuyên tâm chuyên ý mà lấy được Chân Kinh.

  Ngộ Không thu phục Tiểu Bạch Long, cũng chính là cái Tâm đã thu phục được Ý, đạt đến tâm ý hợp nhất. Chỉ cần tâm ý hợp nhất, chí hướng kiên định thì không có Tây Thiên nào là không đến được.

  Về sau, Ngộ Không và Đường Tăng lại thu phục được Bát Giới và Sa Tăng, nghĩa là “thân, tâm, tình, tính, ý” – đoàn thể hoàn mỹ nhất này đã hợp thành.

  Tóm lại, thầy trò Đường Tăng diệt trừ yêu quái trên suốt chặng đường sang Tây Thiên, thật ra chính là người tu hành đang trừ bỏ ma tính trên con đường nhân thế, do đó lấy kinh cũng chính là một quá trình dưỡng tính tu tâm. Linh Sơn thật sự, chính là ở trong tâm người.

  Linh Sơn là ở trong Tâm người

  Trong hồi thứ 19, khi thầy trò Đường Tăng vừa mới bước trên con đường lấy kinh, Ô Sào thiền sư đã truyền thụ cho Đường Tăng một bộ “Đa Tâm Kinh”Nhưng Đường Tăng vẫn không hiểu ý, cuối cùng mãi đến hồi 85, Ngộ Không phải nhắc nhở Đường Tăng rằng:

“Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu,
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.
Nhân nhân hữu cá Linh Sơn tháp,
Hảo hướng Linh Sơn tháp hạ tu.”

(Phật ở Linh Sơn lọ phải cầu,
  Linh Sơn trước mắt lại tìm đâu!
Ai ai cũng có Linh Sơn tháp,
Tu ở Linh Sơn đạo rất mầu).

  Bởi cần phải tu Tâm để trừ dứt ma tính thì mới có thể đánh thức chính mình, mới có thể lĩnh ngộ được Phật Pháp. Do đó, đến lúc này Đường Tăng đã đáp lại rằng: “Đồ đệ ạ, ta há không biết sao? Nếu theo bốn câu ấy, dù thiên kinh vạn quyển cũng chỉ là tu Tâm.”

  Quá trình sang Tây Thiên chính là quá trình trừ bỏ ma tính

  Tôn Ngộ Không vừa mới phò giá Đường Tăng đã đánh chết 6 cường đạo. Trong nguyên tác, tên của 6 cường đạo này lần lượt là: Nhãn Khán Hỷ (Mắt thấy mừng), Nhĩ Thính Nộ (Tai nghe giận), Tỵ Khứu Ái (Mũi ngửi thích), Thiệt Thường Tư (Lưỡi nếm nghĩ), Thân Bổn Ưu (Thân vốn lo), Ý Kiến Dục (Ý thấy muốn) – đây chính là lục căn.

  Tôn Ngộ Không đánh chết lục căn, cho thấy lục căn phải thanh tịnh thì mới có thể lên đường lấy Chân Kinh.

  Trong suốt hành trình sang Tây Thiên, trước khi Ngộ Không đi xin cơm chay thường vẽ một vòng tròn lớn trên mặt đất, đây chính là giới hạn mà Tâm đặt cho con người, nhưng thân thể của con người (Đường Tăng) lại thường hay bị dục vọng (Trư Bát Giới) dẫn dụ mà xa rời giới hạn ấy.

  Vậy là bốn thầy trò dễ dàng rời khỏi giới hạn mà Ngộ Không đặt ra, và khi bước ra khỏi giới hạn ấy họ liền gặp phải các loại yêu ma.

  Ngộ Không mở đường dẫn dắt bốn thầy trò tiến về phía trước, trên đường lại không ngừng diệt trừ yêu quái, ý nói rằng Tâm đang hàng phục ma tính.

  Mỗi một yêu quái trên đường sang Tây Thiên đều có ngụ ý sâu xa. Hết thảy yêu quái đều là một ẩn dụ, thảy đều là huyễn hóa của ma tính. Mỗi một yêu quái là đại biểu cho Danh – Lợi – Tình nơi thế gian đang trói buộc con người, hết thảy đều xuất phát từ ma tính của bản thân một người.

  Ví dụ, Hắc Hùng Tinh xuất hiện trong hồi thứ 16 là do sân niệm của Ngộ Không xui khiến. Hắc Hùng Tinh nổi lửa thiêu hủy thiền viện Quan Âm, cũng chính là ma tính đang trở ngại người tu đắc chính quả

  Ngưu Ma Vương cũng là do ma tính của Ngộ Không biến hóa. Ban đầu, Ngưu Ma Vương cùng Tôn Ngộ Không kết bái huynh đệ, lực lượng ngang nhau, vậy nên phát hỏa (nổi nóng) cũng chính là bản thân đang so tài với chính mình.

  Hồng Hài Nhi và Hỏa Diệm Sơn đều là ngọn lửa trong tâm. Nguyên nhân Hỏa Diệm Sơn hình thành là do năm xưa khi Tôn Ngộ Không chui ra từ lò Bát Quái, vì để trút cơn giận mà đá một miếng gạch chịu lửa xuống trần. Vì cái tâm không chế ước ngọn lửa của bản thân, nên cuối cùng lại đốt cháy chính mình.

  Hồng Hài Nhi tượng trưng cho ngọn lửa thù hận. Hồng Hài Nhi phóng Tam Muội Chân Hỏa thiêu cháy Ngộ Không là ngụ ý rằng, một người luôn sống trong thù hận, thì cuối cùng sẽ chỉ làm tổn thương cái tâm của mình.

  Hoàng Phong quái biết thổi Tam Muội Thần Phong, đây là đại biểu cho phong khí của xã hội, phong khí xã hội có thể khiến trái tim con người (Ngộ Không) mê mờ lạc mất phương hướng.

  Ba hình tượng biến hoá của Bạch Cốt Tinh lần lượt đại biểu cho Tình – Ái – Dục của một người. Ngộ Không đã đánh chết toàn bộ chúng, nói rõ rằng trên đường đời chúng ta nhất định phải khống chế vững tình, ái, dục của bản thân, chớ để nó trở thành chướng ngại tiến bước của chúng ta.

  Ngoài ra, Bạch Cốt Tinh (bộ xương trắng thành tinh) cũng tượng trưng cho thân xác phàm của con người. Thân thể có thể khơi dậy bản năng dục vọng, vậy nên Trư Bát Giới bắt đầu ly gián, khiến con người thất lạc mất nội tâm của mình, vì vậy Đường Tăng đã đuổi Ngộ Không đi.

  Yêu quái là tượng trưng cho các loại mê hoặc của thế gian

Kim Giác và Ngân Giác

  Kim Giác và Ngân Giác vốn là 2 đồng tử coi lò luyện đan của Thái Thượng Lão Quân, trốn xuống trần rồi trở thành yêu quái tại núi Bình Đỉnh, động Liên Hoa. Khi thầy trò Đường Tăng đi ngang qua đây, Kim Giác và Ngân Giác đã dùng sợi dây thừng trói chặt Tôn Ngộ Không, sau lại dùng Tử Kim hồ lô nhốt lấy Tôn Ngộ Không.

  Ở đây, từ tên gọi có thể thấy Kim Giác đại vương và Ngân Giác đại vương là tượng trưng cho sức mê hoặc của kim tiền, bởi kim tiền có thể trói chặt, phong bế tâm con người, khó mà thoát ra được.

  Hoàng Mi Quái

  Hoàng Mi Lão Quái giả dạng Phật Tổ ở chùa Tiểu Lôi Âm, đã dùng não bạt vàng nhốt chặt Tôn Ngộ Không. Pháp bảo não bạt vàng này cũng tượng trưng cho tiền bạc, bởi tiền bạc có thể vây hãm cái tâm người ta.

  Yêu tinh nhện, rết, và bọ cạp

  Bảy con nhện tinh đại biểu cho thất tình lục dục của con người. Thất tình lục dục cũng giống như tấm lưới do nhện giăng lên, có thể trói chặt con người.

  Người đời bởi tư niệm sinh tình, bị tơ tình vây khốn. Trên thân của yêu tinh rết có nghìn con mắt, đó chính là tượng trưng cho các loại dục vọng vật chất mà mắt người thấy được.

  Bọ cạp tinh đại biểu cho mỹ sắc, mỹ sắc sẽ dẫn dụ người ta giống như con bọ cạp, vậy nên thầy trò Đường Tăng đều không địch nổi nó.

  Lục nhĩ mỹ hầu

  Mỹ hầu vương thật giả, một Tôn Ngộ Không chân tâm hướng Phật đã đánh bại được một Ngộ Không giả không thật lòng hướng Phật. Đây là hai loại ý chí, hai loại tư tưởng của bản thân trong một người đang tranh đấu với nhau. Đã sinh ta “hai lòng” thì cần phải trừ bỏ hai lòng này; chỉ cần trừ bỏ hai lòng, một lòng một ý, mới có thể đạt được thành công. Vậy nên Tôn Ngộ Không giả bị đánh chết, thầy trò mới có thể tiếp tục lên đường.

  Trong sách cũng nói, một nạn này là do ma tính của bốn thầy trò sinh ra: Cái tâm ngông cuồng của Tôn Ngộ Không, cái tâm mê muội không phân thật giả của Đường Tăng, cái tâm đố kỵ của Trư Bát Giới, Sa Tăng, cái tâm ngờ vực lẫn nhau giữa mấy huynh đệ thầy trò…

  Quốc trượng nước Tỳ Khưu

  Trong hồi thứ 79, quốc trượng của nước Tỳ Khưu vốn là yêu tinh biến thành. Vì để luyện thuốc trường sinh, yêu tinh đã bắt giữ một nghìn đứa trẻ để mổ bụng lấy tim, sau lại đòi lấy tim của Đường Tăng. Tôn Ngộ Không đã nhanh trí biến thành hình tượng của sư phụ, rồi lên điện diện kiến quốc trượng. Trong sách viết rằng:

“Đường Tăng giả cầm số tim máu chảy ròng ròng, bới từng quả cho các quan xem, thấy toàn là những quả tim đỏ, tim trắng, tim vàng, tim tham lam, tim danh lợi, tim đố kỵ, tim mưu mẹo, tim hiếu thắng, tim hãnh tiến, tim khinh mạn, tim sát hại, tim độc ác, tim sợ sệt, tim tà vọng, tim vô danh, tim mờ ám… toàn là các loại tim xấu xa, chẳng thấy có một quả tim đen nào”.

  Tôn Ngộ Không biến thành Đường Tăng giả là ví rằng Đường Tăng và Ngộ Không lúc này đã hợp hai thành một; y mổ cái bụng của mình, rơi ra một đống trái tim, cũng tượng trưng cho “đa tâm”.

  Chúng ta thường nói “trong lòng hươu chạy”, người có “hai lòng” sẽ sinh ra tai họa, huống hồ là nhiều tâm như vậy. Chỉ khi thu phục yêu tinh này thì trong lòng mới không có hươu chạy loạn xạ nữa, “đa tâm” đã trở thành “nhất tâm”, một lòng một ý mới có thể thành công

  Cửu Linh Nguyên Thánh

  Ba huynh đệ Ngộ Không thích làm thầy thiên hạ, ở Ngọc Hoa châu đã thu nhận ba vị hoàng tử của quốc vương làm đồ đệ, dạy cho họ võ công. Thích làm thầy thiên hạ, không khiêm tốn, bởi vậy đã chiêu mời sư tử tinh, vốn là cháu nuôi của Cửu Linh Nguyên Thánh.

  Cửu Linh Nguyên Thánh là một con sư tử 9 đầu, vốn là thú nuôi của Thái Ất Thiên Tôn ở cung Diệu Nham. Đây là một trong những yêu quái lợi hại nhất trên đường sang Tây Thiên, có thể dễ dàng bắt được Tôn Ngộ Không.

  Sư tử 9 đầu tượng trưng cho “cửu tư” (9 điều suy nghĩ). Khổng Tử nói: “Bậc quân tử có chín điều suy nghĩ”. Một người nếu như làm được “chín điều suy nghĩ” chính là có thể trở thành bậc Thánh, “cửu tư thành Thánh”, vậy nên mới có tên gọi là Cửu Linh Nguyên Thánh.

  Khắc phục ma tính của tự thân mới có thể thấy được Linh Sơn

  Cuối cùng, Tôn Ngộ Không (Tâm) được phong làm Đấu Chiến Thắng Phật — cho dù chúng ta bắt tay vào việc gì, chỉ cần có thể ước thúc nội tâm của tự thân thì mới đạt được thành công.

  Đường Tăng (Thân thể) được phong là Chiên Đàn Công Đức Phật — làm người cần phải thân tâm hợp nhất, mới có thể lấy được Chân Kinh.

  Trư Bát Giới (Tình cảm dục vọng) được phong làm Tịnh Đàn Sứ Giả — dục vọng không trừ bỏ được, vậy nên cuối cùng chỉ được phong làm sứ giả.

  Sa hòa thượng (Bản tính) được phong làm Kim Thân La Hán — cũng là nói, bản tính trân quý giống như vàng ròng vậy.

  Bạch Long mã (Ý chí) được phong làm Thiên Long Bát Bộ Hộ Pháp — cần phải thời thời khắc khắc bảo vệ ý niệm của mình, vậy nên được phong làm Hộ pháp.

  Sau cùng Phật Tổ cho nhóm thầy trò kinh không chữ, chính là vì kinh không chữ mới là Chân Kinh.

“Kinh” trong vô tự kinh, là ý chỉ những việc đã trải qua. Những việc trải qua trên suốt chặng đường này mới là “Kinh” chân chính, vượt xa những văn tự nơi thế gian con người. Một người, sau khi trải qua hết thảy mọi việc nơi thế gian, mới có thể giữ được chân tâm, dù chưa đến Tây Thiên thì trong lòng sớm đã thành Phật rồi.

  Nội hàm của Tây Du Ký vô cùng uyên thâm. Cùng là một người nhưng đọc vào những lúc khác nhau thì thể hội cũng khác nhau. Ví như khi đọc vào thời niên thiếu và khi đọc vào thời trai trẻ đều có những thể hội hoàn toàn khác nhau. Hơn 20 năm sau đọc lại, lại có thể hội mới.

  Một bộ thiên thư bác đại tinh thâm như thế, cả đời người dẫu dày công nghiên cứu cũng khó có thể hiểu cho tỏ tường. Vậy nên, có cả trăm ngàn người lần giở Tây Du Ký, thì những người thật sự đọc hiểu lại chẳng có mấy ai…

Phật ở Linh Sơn lọ phải cầu
Linh Sơn tại tâm có xa nào.
Ai ai cũng có Linh Sơn tháp
Chân tháp tu hành tốt biết bao!

  Sau hành trình thỉnh kinh gian khổ trùng trùng, thầy trò Đường Tăng cuối cùng cũng tới được Linh Sơn, bái kiến Phật Tổ. Trong bốn đồ đệ của pháp sư Huyền Trang, chỉ một mình Tôn Ngộ Không là chứng đắc quả vị Phật, được Như Lai phong chức Đấu Chiến Thắng Phật. Có người nói đó là vì Ngộ Không dọc đường trừ yêu diệt quái có công lớn nhất, âu cũng là một phương diện. Bên cạnh đó, quả vị đắc được nhất thiết phải tương đương với cảnh giới tâm tính của người tu luyện, tâm tính cao bao nhiêu thì quả vị lớn bấy nhiêu. Bạn đọc yêu mến Tây du ký* đã bao giờ tự hỏi, cảnh giới mà Tôn Ngộ Không tu tới trước ngày viên mãn là như thế nào chăng?

  Tôn Ngộ Không vốn là con khỉ đá trời sinh, hấp thụ tinh hoa của nhật nguyệt, bản tính linh thông, căn cơ ngộ tính đều tốt. Lênh đênh biển lớn tìm Đạo, vào thời điểm gặp Bồ Đề Tổ Sư thì Ngộ Không vô cùng thuần phác lương thiện: “Người ta mắng con, con cũng không giận: đánh con, con cũng không tức, chỉ lạy họ mà thôi, cả đời con không có tính”. Vì thế, Ngộ Không được Tổ Sư chân truyền yếu quyết tu Đạo, học được phép trường sinh, lại tinh thông 72 phép biến hoá. Tuy nhiên, chỉ một tâm đắc ý hiển thị trước mặt bạn hữu cũng đủ khiến Ngộ Không bị sư phụ đuổi khỏi sư môn, trở về núi Hoa Quả. Bấy giờ, không còn ai kiềm thúc, tâm kiêu ngạo hung hãn của Ngộ Không càng ngày càng bành trướng, “quan phong Bật Mã còn chê nhỏ, tên gọi Tề Thiên dạ chẳng yên”. Sau cùng, Tề Thiên Đại Thánh đại náo thiên cung, bị Phật Tổ Như Lai dùng thần lực đè dưới núi Ngũ Hành, 500 năm đói ăn viên sắt, khát uống rỉ đồng, chờ đợi người đi lấy kinh.

Có thể nói, Tôn Ngộ Không do trời đất hoá dục mà thành nên bản tính bẩm sinh là vô cùng thuần khiết. Vì không giữ vững tâm tính nên Ngộ Không mới ngày càng sa đọa biến chất, lúc bị Như Lai trừng phạt thì chẳng còn hơn gì một yêu tinh. Hành trình đi Tây Trúc thỉnh kinh, phò tá bảo hộ Đường Tăng chính là hành trình tu luyện, phản bổn quy chân của Tôn Ngộ Không. Những ma nạn gặp phải trên đường đi được Thần Phật an bài để Mỹ hầu vương diệt trừ ma tính, bồi đắp Phật tính. Kể từ hồi thứ 14 “Lòng vượn theo đường chính, Sáu giặc mất tăm hơi”, khi Tôn Ngộ Không gặp được sư phụ Đường Tăng, ta có thể thấy một Tề Thiên Đại Thánh trải qua từng bước từng bước nhẫn nhục mà thuần hoá bản thân. Tới trước ngày bái kiến Như Lai, Tôn Ngộ Không thực sự đã đạt tới một cảnh giới phi phàm, thoát tục.

Nhìn lại hành trình tu luyện của Tôn Ngộ Không, những ngày đầu mới theo Đường Tăng, Hành Giả về cơ bản là không thể nhịn dù là chút oan ức nhỏ. Giết sáu tên cướp bị sư phụ trách mắng, một cân đẩu vân là về chỗ Đông Hải Long Vương. Bị chụp vòng kim cô, đã toan tới Nam Hải “nện” cho Quan Âm một trận. Từ khi đội vòng kim cô, Tôn Ngộ Không mới thực lòng thực dạ bảo hộ Đường Tăng, dọc đường xông pha nguy hiểm, bao phen cứu thầy. Nhưng ma nạn thì nhiều mà sức người có hạn, yêu tinh quỷ quyệt mà Đường Tăng mắt thịt ngây thơ, đã bao lần Tôn Ngộ Không phải nhỏ lệ xót xa cho số kiếp gian truân, hay dằn lòng vì chịu điều oan ức. 

Ví như ở hồi 27 “Thây ma ba lượt trêu Tam Tạng, Đường Tăng giận đuổi Mỹ Hầu vương”, Đường Tăng trúng kế Bạch Cốt Tinh nên cho rằng Ngộ Không quen thói hành hung, giết ba mạng người lương thiện. Một dạ cứu thầy mà bị hiểu lầm nhiếc móc, đuổi như đuổi tà, Ngộ Không chua xót thế nào, ai cũng dễ dàng hiểu được. Lần thứ ba bị sư phụ đuổi, Ngộ Không nói: “Sư phụ mắng oan con rồi. Rõ ràng nó là con yêu tinh, rắp tâm làm hại thầy, con đánh chết nó, giúp thầy trừ họa, mà thầy không nhận ra, lại tin thằng ngốc gièm pha, mấy lần đuổi con. Người ta thường nói: “Sự bất quá tam”, con mà không đi, thành ra hạng hạ lưu không biết xấu hổ. Thôi, con đi đây, đi đây! Đi cũng được thôi, chỉ e sư phụ không có thủ hạ giỏi”. Đó là tâm trạng bất bình uất ức xen lẫn tự ái, đau buồn.

Hay như ở hồi 65 “Yêu ma bày đặt Lôi Âm giả, Thầy trò đều gặp ách nạn to”, khi chứng kiến sư phụ, các sư đệ và thiên thần bị yêu quái bắt lại, Tôn Ngộ Không đã “nghiến răng căm giận, nước mắt lã chã nhớ thương Đường Tăng, đoạn lại ngửa mặt lên trời, cất tiếng khóc thất thanh ai oán: Sư phụ ơi, sư phụ tạo nghiệp truân chuyên từ đời kiếp nào, mà kiếp này mỗi bước đi đều gặp yêu tinh? Hoạn nạn này khó thoát quá, biết làm thế nào bây giờ?”.

Trong khó khăn kiếp nạn, ở bước đường cùng tưởng như chẳng còn hy vọng, con người khó tránh khỏi ngã lòng như thế. Thậm chí, ở hồi 77 “Yêu ma lừa bản tính, Nhất thể bái chân như”, khi gặp phải địch thủ quá gian manh quỷ quyệt, Tôn Ngộ Không khổ sở đau thương tới nỗi oán trách Phật Tổ: “Việc này là đức Phật Như Lai ở cõi cực lạc, do nhàn rỗi chẳng có việc gì mà làm, mới viết ra bộ kinh Tam Tạng đây mà! Nếu đức Phật có lòng khuyến thiện, thì lẽ ra phải đưa sang phương Đông, lại không lưu truyền muôn thuở sao? Đằng này không chịu đưa sang, lại bắt bọn ta phải đến lấy, có biết đâu phải vất vả gian nan trèo đèo lội suối để rồi tới đây bỏ mạng!”.

Thế rồi mỗi một bước đường đi qua, càng về sau Tôn Ngộ Không càng kiên định, từ bi, mà đỉnh cao có lẽ là ở ma nạn xảy ra ngay trước khi thầy trò tới núi Linh Thứu. Chuyện là đoàn thỉnh kinh đi tới phủ Đồng Đài huyện Địa Linh, được gia đình Khấu viên ngoại cúng dường trọng hậu suốt nửa tháng trời, cụ bà còn nải nỉ thầy trò ở lại thêm để mình được hiến chay thêm nửa tháng nữa cho tăng phần công đức. Tam Tạng sốt ruột cầu kinh nên nhất mực từ chối. Khấu viên ngoại giữ Đường Tăng không nổi đành mở hội từ biệt, đưa tiễn linh đình. Chẳng may, đêm ấy một toán cướp nổi lòng tham, vào nhà họ Khấu giết người cướp của. Cụ bà nghĩ giận thầy trò Đường Tăng không nhận sự cúng dâng cơm chay của mình, rồi do tống tiễn linh đình nên mới nên nông nỗi, bèn sinh lòng oán giận, đệ đơn vu cáo mấy thầy trò là thủ phạm. Rủi thay, thầy trò Đường Tăng trên đường gặp đúng bọn cướp này, Đại Thánh trổ thần uy lấy lại số vàng bạc giúp nhà họ Khấu, còn lũ cướp bỏ chạy tháo thân. Đang trên đường đem số vàng bạc trả lại nhà Khấu viên ngoại thì mấy thầy trò bị quan quân bắt được.

Tây du ký hồi thứ 97 “Vàng mang trả gây thành tai họa, Thánh hiện hồn cứu thoát cao tăng” có viết:

“Vừa dứt lời quan quân đã ập tới trước mặt, dàn thành vòng tròn vây chặt bốn thầy trò, quát:

– Lũ hòa thượng này giỏi nhỉ! Đã ăn cướp của cải nhà người lại còn nghênh ngang ở đây!

Đoạn xông vào lôi Đường Tăng xuống ngựa, lấy thừng trói nghiến lại, sau đó cũng trói luôn cả bọn Hành Giả xỏ vào đòn khiêng, cứ hai người khiêng một, dắt ngựa gánh đồ về thẳng phủ thành. Chỉ thấy:

Đường Tam Tạng, run như cầy sấy, nước mắt nghẹn ngào
Trư Bát Giới, càu nhà càu nhàu, trong lòng oán thán.
Sa Hòa Thượng, buồn như chấu cắn, suy nghĩ miên man.
Còn Tôn Ngộ Không, cười khành khạch, muốn khoe thủ đoạn.

Quan quân xúm vào khiêng đi, chẳng mấy chốc đã về tới phủ thành, giải hết cả lên công đường báo bẩm:

– Bẩm quan lớn, chúng con đã bắt được bọn cướp về đây rồi ạ.

Quan thứ sử ngồi ngay ngắn giữa công đường, ủy lạo quân sĩ, kiểm lại tang vật, cho gọi nhà họ Khấu tới nhận, lại cho giải bọn Tam Tạng vào sảnh đường hỏi tội:

– Bọn hòa thượng này mồm kêu là từ phương Đông xa xôi tới, sang phương Tây bái Phật cầu kinh, hóa ra là một bọn cướp bày đặt ra thế để dò xét đường đi lối lại trong nhà người ta rồi ăn cướp của cải!

Tam Tạng thưa:

   Xin đại nhân cho được nói: Bần tăng thực không phải là cướp, không dám dối trá điều gì. Trong người hiện có tờ điệp văn đại nhân có thể soi xét. Chỉ nhân nhà Khấu viên ngoại hiến trai chúng tôi nửa tháng, tình cảm sâu nặng, dọc đường gặp bọn cướp, chúng tôi lấy lại được số của cải bọn chúng cướp được ở nhà họ Khấu, định quay lại mang trả nhà họ Khấu để báo ơn, không ngờ gặp quân lính vây bắt cho là kẻ cướp. Thực tình chúng tôi không phải là kẻ cướp, muốn xin đại nhân xét kỹ.

Quan thứ sử nói:

– Bọn các ngươi bị quan quân bắt được, lại khéo nói là báo ơn. Nếu đã dọc đường gặp cướp, tại sao không bắt ngay lấy bọn chúng, vừa báo quan báo ơn một thể, tại sao lại trơ khấc chỉ có bốn người bọn các ngươi? Các ngươi xem, Khấu Lương đệ đơn kiện, viết rõ tên các ngươi, các ngươi còn dám chối cãi gì nữa!

Tam Tạng nghe xong, khác nào sấm đánh mang tai, hồn xiêu phách tán, cất tiếng gọi:

– Ngộ Không, sao con không thanh minh đi! 

Hành Giả nói:

– Tang vật rõ rành rành, còn thanh minh gì nữa!”.

Thật thú vị! Lần này cũng là làm ơn mắc oán, bị trói bị tù, thế mà Tôn Ngộ Không lại “cười khành khạch”, chẳng mảy may lo lắng, bị hiểu lầm cũng chẳng buồn giải thích thanh minh. Đoạn thơ miêu tả thái độ của bốn thầy trò khi bị quan quân bắt trói là bức tranh đối lập giữa một Đường Tăng sợ hãi, một Bát Giới oán trách, một Sa Tăng lo buồn, với một Ngộ Không vui vẻ. Vì sao Tôn Ngộ Không lại vui nhỉ? Tây du ký, hồi 97 viết:

“Vào khoảng canh tư ba khắc, Hành Giả thấy xung quanh im ắng, mọi người đã ngủ say, bèn nghĩ thầm:

– Sư phụ số phải chịu tai nạn ngồi tù đêm nay. Lão Tôn không mở mồm thanh minh, không thi thố pháp lực, cũng chỉ vì thế. Bây giờ đã là canh tư, tai nạn sắp qua khỏi, ta phải đi chuẩn bị trước, đợi trời sáng, ra khỏi nhà lao”.

  Thì ra, đó là vì Tôn Ngộ Không đã nhìn thấu sự an bài của Thần Phật. Phải ngồi tù ở phủ Đồng Đài quả thực chính là ma nạn thứ bảy mươi chín ghi trong cuốn sổ của Bồ Tát (hai nạn còn lại là: thoát thai bến Lăng Vân và bị rùa lật rơi sông Thông Thiên). Con người khi lâm vào khổ nạn thường bị cảm xúc dày vò, nào lo sợ buồn thương, nào giận hờn oán thán. Nhưng trong con mắt của Thần Phật, ma nạn chính là cánh cửa giúp người tu luyện tiến về viên mãn, là cơ hội tốt để người tu luyện tiêu trừ tội nghiệp và ma tính, là hoàn cảnh gây dựng uy đức của đấng giác ngộ tương lai. Tôn Ngộ Không lúc này đây đã không còn là một Tề Thiên Đại Thánh hung hăng chẳng chịu nổi một điều oan ức nhỏ, cũng không còn là một Mỹ hầu vương dễ dàng rơi lệ vì số kiếp gian truân. Đến bước này, Tôn Ngộ Không thực sự đã “ngộ không”, ngộ ra chỉ cần bình thản đối diện với ma nạn, lòng không gợn nhân tâm chấp trước, thì nhất định vượt qua.

Đời người thăng trầm sóng gió, có mấy ai làm được như Tôn Ngộ Không? Có thể “lấy khổ làm vui”, như một vị khán giả đang dõi theo vở diễn mà bản thân mình là nhân vật chính. Nếu có thể làm được vậy, thì mọi được mất trong cõi trần gian người chẳng thể động đến tâm can, mọi thắng thua chốn nhân gian chỉ như mây khói. Người như vậy, có lẽ đã đến rất gần cảnh giới của đấng giác ngộ vậy.

NGƯỜI HÙNG ĐỠ EM BÉ RƠI TỪ TẦNG 13 chiều nay 28/2/2021💓💓💓💓

 CHÂN DUNG NGƯỜI HÙNG ĐỠ EM BÉ RƠI TỪ TẦNG 13 TẠI HÀ NỘI CHIỀU HÔM NAY.



Chiều nay 28/2/2021



Anh Mạnh cho biết, anh làm nghề lái xe tải, chuyên nhận chuyển nhà trọn gói. Thời điểm xảy ra vụ việc vào khoảng 17h30 chiều 28-2. “Lúc này, tôi đang ngồi trong xe ô tô, đợi chuyển hàng cho khách ở tòa nhà đối diện. Tôi nghe thấy tiếng khóc của trẻ con nhưng nghĩ là bé nào đó không ngoan bị bố mẹ mắng.


Tuy nhiên, ngay sau đó, tôi thấy tiếng người lớn hô hoán, cứu giúp. Lúc này tôi ngó đầu ra khỏi xe ô tô, nhìn ngó xung quanh, và ngẩng lên cao thì phát hiện một em bé đang trèo ở lan can ra ngoài. Ngay lập tức tôi lao ra khỏi xe ô tô, tìm cách trèo tường bao sang tòa nhà bên cạnh. Tôi trèo lên mái tôn cao khoảng hơn 2m để tìm cách đỡ cháu. Mái tôn là mái che của một lối dẫn xuống khu vực để xe, nên bị nghiêng. Tôi vừa cố trèo, vừa đưa tay ra cố gắng đỡ cháu. Khi bé rơi xuống, tôi chỉ kịp đỡ lấy để bé không rơi xuống đất. May mắn, bé rơi trúng tay tôi, hai chú cháu ngã xuống, lún cả mái tôn. Tôi vội ôm bé vào người, thấy máu chảy ra ở miệng cháu, tôi hoảng sợ vô cùng”, anh Nguyễn Ngọc Mạnh kể.


Ngay sau đó, anh Mạnh đã cùng người dân đưa cháu bé xuống đất, để đưa đi bệnh viện cấp cứu. Còn anh Mạnh tay bị bong gân nhẹ.


Cảm ơn anh rất nhiều về hành động ngày hôm nay. Cuộc sống sẽ đẹp hơn rất nhiều khi có những con người như anh!


Nguồn: Sưu tầm ! 

Đầu năm mới Việt Nam có rất nhiều người Hùng . Mang tâm Bồ Tát , xin chân thành cảm ơn !

Rượu dâu tằm rất bổ ích cho sức khỏe

    Dưới góc nhìn của các chuyên gia: Rượu dâu tằm không chỉ được biết đến là loại thức uống thơm – ngon có chức năng giải nhiệt mà nó còn xem như vị thuốc quý, mang đến nhiều lợi ích cực kỳ tốt cho sức khỏe của mỗi người. Trong bài chia sẻ dưới đây, tôi sẽ bật mí đến bạn những tác dụng kỳ diệu của rượu dâu tằm mà không phải ai cũng biết.

Rượu dâu tằm – hỗ trợ tiêu hóa

Công dụng đầu tiên phải kể đến của rượu dâu tằm chính là hỗ trợ đường tiêu hóa một cách tốt nhất nhờ chứa nhiều chất xơ có tác dụng cải thiện tiêu hóa, đồng thời giảm nguy cơ táo báo, đầy hơi và quặn thắt ruột. Bên cạnh đó, chất xơ ở loại quả này còn có khả năng giúp điều chỉnh nồng độ cholesterol trong máu và tăng cường sức khỏe tim mạch

Theo link dưới đây các bạn có thể xem cách ngâm rượu dâu tằm

https://youtu.be/e1j61qb4KyQ

Nhắc đến rượu hoa quả không quên nhắc đến Rượu dâu tằm. Với nhiều tác dụng như lợi tiểu, bổ can thận, cải thiện giấc ngủ…rượu dâu tằm trở thành thức uống được nhiều người yêu thích. 

   Dưới đây là 2 cách ngâm rượu dâu tằm đơn giản tại nhà mà ai cũng làm được. Nguyên liệu dễ tìm, bạn hoàn toàn có thể làm bình rượu thơm ngon và bổ dưỡng

  Dâu tằm không chỉ là một loại quả có vị ngon, có nhiều tác dụng với sức khỏe mà rượu dâu tằm cũng là một vị thuốc chữa bệnh. Để rượu dâu tằm phát huy tối đa tác dụng thì đòi hỏi người ngâm phải biết cách ngâm rượu đúng cách và khoa học.


  Rượu dâu tằm có tác dụng rất tốt với sức khỏe, nếu biết cách sử dụng một cách khoa học. Loại rượu này tương đối phổ biến với người dân Việt Nam. Tuy nhiên thì vẫn có nhiều người chưa hiểu hết về tác dụng của rượu dâu tằm.

  Tên khoa học: Morus alba; thuộc họ Moraceae, chi Dâu tằm



Cây dâu tằm Việt Nam

  Đã từ rất lâu về trước, cây dâu tằm trở nên gắn bó với người dân Việt Nam. Không chỉ biết đến với vải lụa tơ tằm. Các bộ phần của cây dâu cũng có góp rất lớn cho nền Đông Y nước nhà



  Tên gọi khác: Dâu tằm trắng, dâu ta, dâu thường, dâu trắng

  Đặc điểm: Cây tằm là cây thân gỗ, kích thước trung bình, có thể cao từ 15-20m. Tuổi đời trung bình 8-12 năm. Có những cây được chăm sóc và phát triển trong điều kiện môi trường tốt có thể sống đến 50 năm. Thân cây có nhiều cành, cành có nhiều mầm. Rễ ăn sâu vào đất lan rộng 2-3m. Lá dạnh thùy, phức hợp lá to có thể dài tới 20cm. Quả nhỏ, hình bầu dục khi chín chuyển từ trắng sang hồng và tím sẫm. Dâu ta thường có vị nhạt và không đậm đà như dâu đỏ hay dâu đen. Quả chín có vị đậm hơn.



  Cuối tháng 3 đầu tháng 4 là thời điểm dâu tằm chín rộ và có thể thu hoạch. Quả dâu tằm có thể dùng ngâm đường hoặc ở bài viết này sẽ giới thiệu 2 cách ngâm rượu dâu tằm đơn giản từ trái dâu chín có thể làm tại nhà.



  Không chỉ sử dụng quả để ngâm đường hay ngâm rượu. Dâu tằm được xem là loài thực vật “đa năng” khi gần như bộ phân của cây đều được sử dụng làm các vị thuốc quý trong Đông Y.

Phần rễ và vỏ dâu tằm có thể chữa ho khan, phù thũng, ho ra máu và đi tiểu ít

 Lá dâu tằm được sơ chế thành nhiều bài thuốc chữa đổ mồ hôi trộm, huyết áp cao. Thậm chí có thể dùng để chữa đau đầu, cảm mạo.

  Những người bị các chứng như chân tay co quắp, phong tê thấp thì nên sử dụng các bài thuốc từ cành dâu tằm non.



  Riêng trái dâu tằm có rất nhiều tác dụng quý nên sẽ đề cập đến ở mục sau. Tuy nhiên không chỉ các bộ phận của cây có giá trị. Các sinh vật sống và cộng sinh trên cây cũng mang lại những giá trị không ngờ như:

  Các bộ phận của cây có giá trị. Các sinh vật sống và cộng sinh trên cây cũng mang lại những giá trị không ngờ như:Cây tầm gửi leo lên dâu tằm có khả năng hỗ trợ điều trị đau lưng, mỏi gối, tê bại chân tay.Tổ của con bọ ngựa bám lại trên thân cây được dùng làm vị thuốc để chữa các bệnh như đổ mồ hôi trộm, hư lao, bạch đới, đái đục, đi tiểu không nín được hay di tinh.

  Về cơ bản, cây dâu tằm có khá nhiều điều thú vị để chúng ta có thể khám phá. Cây dâu tằm dễ trồng, và không mất quá nhiều công chăm sóc. Hiện nay, nhiều nhà vườn cũng trồng dâu tằm để làm cảnh rất có giá trị.

 Rượu dùng quanh năm như một cách “tích trữ”. Cách ngâm rượu dâu tằm đơn giản, có thể làm tại nhà, không tốn nhiều thời gian mà còn rất tiết kiệm. Quả dâu tằm tự nhiên rất sạch, do vậy rất an toàn và lành tính.

  Để có một bình rượu dâu tằm “thượng hạng” chúng ta cần chuẩn bị các nguyên liệu sau.

  Dâu tằm. Nguyên liệu chính không thể thiếu. Khi vào mùa không khó để có thể tìm mua dâu với giá cũng rất phải chăng. Khi mua bạn nên cẩn thận chọn những quả dâu chín, to đều. Không bị sâu bệnh hoặc dập nát. Quả dâu tằm chất lượng tốt là những quả có cuống đã ngả màu vàng.

  Chú ý: Những quả dâu đã chín, quả đều chín mọng đẹp mắt nhưng cuống vẫn còn màu xanh. Thì đây là những quả đã được tẩm ướp chất không an toàn cho sức khỏe với mục đích giữ quả tươi lâu hơn.

  Rượu ngâm. Thông thường chỉ cần chọn rượu trắng là được. Nhưng tốt nhất nên chọn rượu nếp đã qua ủ. Rượu dao động từ 35-40 độ là đẹp. Với tầng độ này, rượu thành quả sẽ từ 25-30 độ. Chị em cũng có thể “bon chen” dùng được.

  Chọn bình ngâm. Bất kể đồ ngâm rượu là gì, chúng tôi đều khuyến khích bạn nên chọn bình ngâm bằng thủy tinh hoặc gốm sứ. Nói không với các loại bình nhựa và hợp kim inox. Những loại bình này có giá rẻ hơn, song không an toàn sau quá trình ủ dài có thể sinh ra các chất làm mất mùi rượu hoặc có hại cho sức khỏe.

  Đường. Có thể dùng đường trắng. Lưu ý nhỏ nếu sử dụng đường phèn thì sẽ giã nhỏ.

Cách ngâm trực tiếp với rượu đã chuẩn bị

  Đây là làm đơn giản và dễ nhất. Chỉ cần khoảng 30 phút có thể làm xong

  Bước 1. Dâu sau khi mua về sẽ rửa sạch với nước. Cắt bỏ phần cuống, lưu ý làm hết sức nhẹ nhàng để dâu không bị hỏng. Nếu cẩn thận hơn có thể ngâm với nước muối loãng từ 30-45 phút để loại bỏ hết các vi khuẩn và chất bụi bẩn. Sau khi ngâm nước muối tráng lại với nước sạch, vớt ra và để ráo nước

  Bước 2. Bỏ dâu đã chuẩn bị ở bước 1 vào bình ngâm. Một lớp dâu là 1 lớp đường theo tỷ lệ 1kg dâu/500g đường. Lớp đường trên cùng do dầy nhất để tránh bị bọ trong khi ủ. Ủ dâu liên tục trong 30 ngày. Trong thời gian này bạn có thể kiểm tra và lắc bình để quả dâu được ngấm đường đều hơn.

  Bước 3. Sau 30 ngày  khi thấy lớp đường đã tan hết thì đổ trực tiếp rượu 1l vào. Và tiếp tục ủ 30 ngày nữa. Rượu được ủ càng lâu sẽ càng ngon.

Sau thời gian ủ có thể chắt lấy nước và bỏ bã luôn. Rượu thành quả có màu rất đẹp và thơm ngon. Như vậy chúng ta đã hoàn thành xong cách ngâm rượu dâu tằm đơn giản đầu tiên.

  Cách ngâm rượu dâu tằm với đường

 Ở cách ngâm rượu dâu tằm đơn giản thứ 2 này mất nhiều thời gian hơn. Không thích hợp với những ai thiếu kiên trì. Nhưng ngược lại với cách này vừa có siro dâu uống mùa hè, vừa có rượu ngon thưởng thức mỗi ngày. Một mũi tên trúng cả 2 đích, cũng đáng!

  Nguyên liệu chuẩn bị như trên. Tuy nhiên để làm siro với rượu giữ nguyên định lượng. Riêng dâu tằm sẽ chuẩn bị 3kg và đường là 1kg

  Bước 1. Chuẩn bị và sơ chế dâu giống cách 1.

  Bước 2. Tiến hành làm siro dâu. Xếp các lớp dâu và đường vào bình, mỗi lớp dầy từ 1.5cm đến 2cm. Vẫn giữ nguyên lớp đường trên cùng để tránh bị bọ nhé. Sau đó đậy kín bình trong 5-6 ngày. Trong thời gian này vẫn kiểm tra và lắc bình để dâu được ngấm đường tốt hơn.

  Bước 3. Sau 5,6 ngày ủ nếu thấy lượng đường trong bình đã tan hết thì tiến hành chắt lấy nước riêng và phần dâu giữ nguyên trong bình riêng. Nước cốt này sau đó cho lên bếp đun sôi đến khi sánh lại thì tắt bếp và để nguội. Như vậy chúng ta đã hoàn thành bước làm Siro hoa.

  Bước 4. Sau khi chắt hết hết cốt ra, tiến hành đổ rượu vào bình có phần quả dâu còn lại và tiếp tục ủ khoảng 30 ngày. Thời gian ủ kiểm tra và lắc nhẹ bình để các quả dâu hoán đổi vị trí trên dưới đều ngập rượu

  Sau thời gian ủ chúng ta có thể chắt rượu riêng và dâu riêng tiện cho quá trình sử dụng. Như vậy chúng ta đã hoàn thành cách ngâm rượu dâu tằm đơn giản thứ 2. Một lưu ý nho nhỏ khi chọn cách thứ 2 này. Thông thường khi làm siro dâu tằm sẽ cho thêm gừng để dậy mùi. Tuy nhiên nếu làm siro để ngâm rượu thì không cho thêm gừng ở bước làm siro để tránh làm hỏng mùi vị rượu dâu tằm sâu này nhé.

 Trên đây là 2 cách ngâm rượu dâu tằm đơn giản tại nhà ai cũng có thể làm được. Tùy vào điều kiện, thời gian hay sở thích mà có thể chọn cách làm phù hợp nhất.

  Trong suốt quá trình ủ rượu phải đảm bảo bình được để ở nơi sạch sẽ và khô ráo, tránh ánh nắng trực tiếp từ mặt trời.

  Không chỉ ngon dễ làm rượu dâu tằm còn được xem là “thần dược” với sức khỏe. Đây là lý do rượu dâu tằm được ưa chuộng nhất trong các loại rượu hoa quả.

  Rượu hoa quả nói chung và rượu dâu tằm nói riêng đều tốt cho sức khỏe lại có thành phần từ tự nhiên nên rất được tin dùng. Song, không vì thế mà lạm dụng uống không có điều độ. Tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh còn phụ thuộc và tình trạng bệnh lý hay cơ địa người dùng và cả cách dùng đúng nữa.



  Nên uống rượu dâu tằm cùng bữa ăn. Ngày uống 2 lần mỗi lần từ 30-50ml không uống nhiều quá. Ngoài cách uống chay, có thể bỏ thêm đá để cải thiện hương vị.Đối với rượu dâu tằm, người uống cần đặc biệt lưu ý. Rượu dâu tằm uống vị ngọt, rất dễ uống vì vậy nhiều người thường uống nhiều dẫn đến bị say rượu và không thể kiểm soát