Thứ Sáu, 19 tháng 3, 2021

Dòng họ Ma lâu đời nhất Việt Nam chuyện ít người biết đến

 

Đây là dòng họ duy nhất còn giữ được ngọc phả chứng minh cụ tổ của dòng tộc mình được sinh ra và có công giúp Hùng Vương dựng nước, giữ nước.Ông Bảo năm nay đã ngoài 70 tuổi chia sẻ cuốn gia phả của dòng họ kéo dài hàng nghìn năm đã chuyển thành chữ quốc ngữ. Ông là tộc trưởng đời thứ 77 của dòng họ, tộc trưởng đầu tiên là ông tổ Ma Khê, mất năm 259 trước công nguyên thọ 95 tuổi. Người trẻ nhất trong gia phả là cháu đích tôn của ông Bảo: Ma Tân Thành, năm nay 7 tuổi, thuộc về đời thứ 79.


Đền Trù Mật ở thị xã Phú Thọ, nơi thờ tộc trưởng đời thứ 43 và còn lưu giữ thanh đao của dòng họ.
Nếu đến năm 2015 mà dòng họ Nguyễn và dòng họ Cao không tìm được thấy ngọc phả của mình, thì dòng họ Ma sẽ được ghi nhận là dòng họ lâu đời nhất ở Việt Nam", ông Ma Ngọc Bảo, tộc trưởng dòng họ Ma ở Phú Thọ tự hào cho biết.


Đền Trù Mật ở thị xã Phú Thọ, nơi thờ tộc trưởng đời thứ 43 và còn lưu giữ thanh đao của dòng họ. 
"Trong 18 chi họ Hùng tồn tại ở Việt Nam với gần 90 đời vua thì cụ tổ Ma Khê của dòng họ là con Hùng Nghị Vương thứ ba năm 354 trước Công nguyên, thuộc đời Hùng Vương thứ 17. 

Họ Ma là người dân tộc Tày, định cư chủ yếu ở vùng núi Đọi, ven sông Thao, nay thuộc đất Cẩm Khê, Phú Thọ.
 Nước Văn Lang của người Lạc Việt trải dài từ Yên Bái xuống theo các lưu vực sông Hồng, sông Mã... Phía Tây Bắc là địa bàn Âu Việt của người Tày Thái cổ. Tuy cư dân Văn Lang chủ yếu là người Việt Mường nhưng cũng có bộ tộc người Tày Thái cổ bỏ nhà Thục theo về nhà Hùng.

Vào thời Hùng Vương chi thứ 18, đời Hùng Duệ Vương thứ I (theo Ngọc phả họ Ma thì Hùng Vương thứ 18 có 3 đời). Bộ tộc người Tày họ Ma ở chân núi Đọi Đèn huyện Cẩm Khê do Ma Khê là tộc trưởng đã triệu tập binh mã giúp Hùng Vương đánh thắng giặc giữ yên bờ cõi cho nước Văn Lang. Ma Khê được Hùng Duệ Vương phong chức “Đại tướng quân” trấn giữ phía tây thành Phong Châu. Đến đời Hùng Duệ Vương thứ II do tài đức và lập nhiều công lớn ông lại được vua phong “Phụ Quốc Ma Vương Đại Thần Đại Tướng Quân”. Rồi ông được triệu về kinh đô giúp vua trông coi triều chính, trị quốc an dân .

Ma Khê sinh một trai một gái. Con trai là Ma Xuân. Con gái gọi là nàng Huệ, Huệ Nương. Huệ Nương lấy Bảo Công là Lạc tướng đời Hùng Duệ Vương thứ III. Ma Xuân, con cả Ma Khê cũng là tướng nhà Hùng. Ma Xuân sang sông xây thành. Vì là thành của người Tày họ Ma nên gọi là Ma Thành. Tránh từ “Ma” trong tiếng việt nên Ma Thành gọi là Thành Mè. Nay thị xã Phú Thọ vẫn có dấu tích khu vực thành Mè và chợ Mè, bến Mè là bến sông do người họ Ma lập ra.

Hùng Duệ Vương thứ III, cuối thời Hùng Vương thứ 18 không có con trai, triều đình lại lung lay, bên ngoài thì Thục Phán nhòm ngó cướp ngôi bên trong thì rối loạn. Lạc Tướng Bảo Công con rể Ma Khê định củng cố thế lực đoạt ngôi vua. Nhưng một đêm ngủ tại Ma Thành cùng anh vợ có thần về báo mộng của trách nên từ bỏ ý định làm loạn.

Thục Phán cướp ngôi, sáp nhập Âu Việt với Lạc Việt thành nước Âu Lạc rời đô về Cổ Loa xây thành để giữ nước. Cha con Ma Khê, Ma Xuân, Bảo Công không hợp tác với nhà Thục trở về sinh sống ở đất Hoa Khê chân núi Đọi Đèn, nay thuộc các xã Tình Cương, Văn Khúc, Chương Xá, Cát Trù, Thạch Đê của huyện Cẩm khê. Vùng đất Cẩm Khê thời cổ đại làđịa bàn của người Tày họ Ma làm chủ. Khi Việt Nam được chia thành quận huyện thì được gọi là huyện Ma Khê, rồi Kim Khê, Hoa Khê để sau này thành huyện Cẩm Khê. Khê không chỉ có nghĩa đèo dốc mà còn Mang tên vị đại tộc trưởng người Tày đã có nhiều đóng góp cho nhà nước Văn Lang dưới thời Vua Hùng thứ 18.

Theo ngọc phả Ma tộc thì năm 246 Trước công nguyên Ma Xuân thay cha làm tộc trưởng họ Ma đã rời cả bộ tộc từ vùng núi Đọi Đèn sang Ma Thành để mở Mang điền ấp, sinh cơ lập nghiệp tại đất mới, nay là thị xã Phú Thọ.

Năm 259 Trước công nguyên. Phụ quốc Ma Khê 95 tuổi, cụ mất tại thành Mè. Nhân dân thành Mè lập ngôi đền Sở để thờ cụ. Người ta cũng xây ngôi miếu Mẫu để thờ cụ bà Ma Khê ở trước cửa phía đông chợ Mè ngày nay. Năm 1947 giặc Pháp phá huỷ mất ngôi đền Sở và đình Mè, nay chỉ còn miếu Bà.

Ở Gò Làng, chân núi Đọi Đèn nhân dân làng Văn Khúc cũng xây đền thờ Phụ Quốc Đại Thần, Đại Tướng Quân Ma Khê, đó là đền Kim Giao. Làng Văn Khúc cũng xây đền, sau là đình làng thờ nơi Vua Hùng gặp Quế Anh Phu Nhân (mẹ các công chúa Tiên Dung, Ngọc Hoa) và đây cũng là nơi thuở trước Vua Hùng thường hội kiến với Ma Khê và con rể Nguyễn Tuấn, người Mường quê ở vùng sông Đà núi Tản, khi chết được gọi là Tản Viên Sơn Thánh là một trong tứ bất tử của thần điện Việt Nam.

Tương truyền từ Văn Khúc Đọi Đèn, Ma Khê sang lấy vợ bên làng Vi cạnh đền Hùng. Làng Vi cũng là địa bàn cư trú của người Tày Thái Cổ. Khu vực họ ở đầy tre các loại. Ngôn ngữ Tày Thái gọi tre là Pheo. Nên ở đây mới có bản Pheo đồng thời người Việt cũng gọi đấy là xóm Tre. Trong ba ngọn núi thiêng ở Đền Hùng, Tam sơn cấm địa trong tâm linh tâm thức Việt Nam có ngọn núi nhỏ nhất Mang tên Tày là núi Nỏn, đồng thời nó cũng Mang một tên Việt là Núi út (Nỏn là út)

Theo ông Lê Tượng nguyên trưởng ban quản lý Đền Hùng thì ở khu vực Đền Hùng có một tấm bia ghi dịa danh  của năm mươi khu ruộng mà một nửa trong số đó được gọi là Na (vì người Tày gọi ruộng là na) như Na Hưu, Na Dầu, Na Hoàng vv..

Hẳn rằng Vua Hùng thứ 18 biết rõ chỉ có người Tày mới hiểu biết về người Tày hơn ai hết; vì thế triều đình mới trao quyền cao chức trọng và cho trấn giữ biên giới phía Tây để ngăn chặn người Âu Việt khi họ tràn xuống đánh chiếm Lạc Việt.

Phú Thọ thời Hùng Vương là địa bàn cư trú xen kẽ giữa hai nhóm tộc người Việt Mường và Tày Thái cổ. Suốt thời cổ đại, trung đại, các nhóm Việt cổ tràn xuống khai khẩn vùng trung châu. Do tiếp biến văn hoá họ trở thành người Kinh. Về sau Phú Thọ thành nơi đất rộng người thưa mà vùng đồng bằng thì càng ngày càng đông người chật chội nên từng nhóm cư dân người kinh lại tràn lên sinh sống ở miền đất cổ này. Lâu dần người Kinh lại có số dân đa số, người bản địa vẫn bám trụ ở đây trở thành người thiểu số. Đến thời Lê, để phân biệt với các làng người Kinh, triều đình cho gọi các điểm cư trú của người thiểu số là động Man. Ta còn nhớ có các động Trúc Phê, Hưng Hoá. động Hoa Khê ở Cẩm Khê,động Phú An, thị xã  Phú Thọ. Phú An động cũng do người Tày từ Hoa Khê đến nên Thị xã Phú Thọ cũng từng được gọi là Hoa Khê động. ở Tam Nông còn có động Khuất Lão (xã Văn Lang) và động Lăng Xương (Trung Nghĩa, Thanh Thuỷ)... Người thiểu số khi ấy có nhóm người Mường tách từ người Lạc Việt và người Tày tách từ nhóm Âu Việt. Các nhóm thiểu số ở vùng ngoài Phú Thọ lâu dần cũng do tiếp biến văn hoá mà thành người Kinh. Từ người Mường có các họ Đinh, Quách, Bạch, Hà, Bùi. Từ người Tày có các họ Ma, Mè, Mai.  Mai, Mè đều do biến âm từ họ Ma mà thành. Theo nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Nguyễn Khắc Xương thì ở huyện Thanh Ba gần đây vẫn còn những ngôi miếu Mường (miếu của người Mường khi xưa).


Đên thờ họ Ma ở đền trù Mật thị xã Phú Thọ 

Về họ Ma người Tày thì còn để lại khá nhiều dấu ấn ở Đất Tổ bằng các truyền thuyết, thần tích, ngọc phả và hàng loạt di tích thờ cúng ở Cẩm Khê, Trù Mật, Phú An, Đền Hùng... Đoạn sông Hồng từ Yên Bái về Việt Trì do người Tày ở chính hai bên nên nó được Mang tên theo ngữ hệ Tày Thái là sông Thao do biến âm, gọi chệch từ Nậm Tao mà ra.

Họ Ma người Tày ở Phú Thọ nay hầu hết đều khai lý lịch là dân tộc Kinh. Rất ít người vẫn khai dân tộc Tày. Thậm chí trong một gia đình thì anh khai là người Kinh, các em khai là  dân tộcTày. Điển hình như gia đình tộc trưởng Ma Ngọc Bảo Việt Trì, các em ông như ca sĩ Ma Thị Bích Việt vẫn khai lí lịch từ trước là ngưòi Tày. Ông Bảo và các con khai là người Kinh. Anh em họ mạc nhà ông hiện có rất đông là người Tày ở Lục Yên Châu, Tuần Quản (Yên Bái) và Đầm Hồng (Tuyên Quang).

Ông Ma Ngọc Bảo đời thứ 77 tính từ cụ tổ Ma Khê (thời Hùng Vương thứ 18) hiện là trưởng họ Ma. Vì thế ông được cha ông trao truyền cho giữ ngọc phả của Ma Tộc và phả hệ của dòng họ nhà mình.

Tính từ cụ Ma Khê đến nay đã có 79 đời, tức là cháu đích tôn của ông Ma Ngọc Bảo là Ma Tân Thành sinh năm 2005.

Cụ Ma Văn Thực bố ông Bảo (1917 - 2004) vừa theo Hán học, vừa theo Tây học nguyên phụ trách ngành tiểu thủ công nghiệp Vĩnh Phú, vì là con trưởng làm tộc trưởng nên được cha mình Ma Văn Thị (1878 - 1950) giao cho giữ tộc phả, gia phả và hàng năm lo giỗ chạp cúng tế tổ tiên. Vì có xuất sứ gia đình quý tộc nên các cụ luôn có ý thức gìn giữ ngọc phả Ma tộc và phả hệ các đời con cháu từ cụ Ma Khê xuống. Do chiến tranh các bản gốc bị huỷ hoại nhưng đời ông đời cha ông Ma Ngọc Bảo đã có công ghi chép lại, vì vậy ngày nay ông Bảo mới sao ra gửi cho các dòng họ Ma cùng tông tộc ở Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang... để họ nhớ về tiền nhân đặc biệt tự hào là tổ tiên có liên quan đến triều đại Hùng Vương thứ 18...

Trong danh sách của 79 đời tộc trưởng thì chặng đầu tham gia việc triều chính chỉ có cha con cụ tổ Ma Khê, Ma xuân và con rể Bảo Công. Từ sau đó cho đến đời thứ 42 con cháu Ma tộc chỉ lo việc ruộng đồng, nương dẫy là chính. Đời thứ 43 Ma Xuân Trường (930 - 966) lại được đi vào sử sách nước nhà. Đó là thời nhà Ngô tan giã, đất nước  loạn 12 xứ quân. Vùng phía Bắc do Kiều Thuận cai quản. Ông kết giao, kết nghĩa với Ma Xuân Trường, tộc trưởng họ Ma.  vì Ma Thành vốn có lực lượng vũ trang khá mạnh. Kiều Thuận bị  quân của Đinh Bộ Lĩnh vây hãm ở thành Hưng Hoá. Ma Xuân Trường đem tinh binh giải cứu đưa được tướng Kiều Thuận đã bị thương về Ma Thành. Tướng của Đinh Bộ Lĩnh là  Đinh Điền và Nguyễn Bắc đem quân vay hãm thành Mè. Kiều Thuận qua đời tại đây. Ma xuân Trường đưa cả Ma tộc chạy lên Tuần Quán, Yên Bái thì qua đời. Ngày nay ở Tuần Quán vẫn có miếu thờ ông.

Sau khi thống nhất được đất nước, Đinh Bộ Lĩnh lập lên triều nhà Đinh gọi ông là Đinh Tiên Hoàng. Khi xét công định tội, Đinh Tiên Hoàng đã không trị tội Kiều Thuận và Ma Xuân Trường mà còn truy phong họ là “Trung quân ái quốc” và ban cho dân hai làng Trù mật, Phú An (thị xã Phú Thọ) lập đền thờ họ.

Việc làm ấy chứng tỏ nhà Đinh muốn an dân là chính vì người của họ Ma khi ấy đã rất đông đúc ở hầu khắp các vùng thượng du. Tàn sát họ thì triều đình không lợi gì. Hơn nữa trước đó Đinh Bộ Lĩnh cũng như Kiều Thuận và Ma Xuân Trường đều là bề tôi của vua Ngô. Kiều Thuận và Ma Xuân Trường cũng vì trung quân ái quốc mà chống lại mình và mặt khác người vợ xinh đẹp yêu dấu của Đinh Bộ Lĩnh là Dương Văn Nga lại là cháu bà mẹ của tướng quân Kiều Thuận, vì nể vợ mà Đinh Tiên Hoàng tha bổng và truy phong cho họ chăng.

Họ Ma trải qua mấy ngàn năm, cũng trải qua nhiều thịnh suy bĩ thái. Đến đời tộc trưởng thứ 44 Ma Phúc Vinh cùng vợ là Nguyễn Thị Bích lại đưa gia nhân trở về sau loạn 12 xứ quân để tu sửa lại Ma Thành củng cố bộ tộc,lập từ đường thờ “MaTộc thần tướng Ma xuân Trường”. Còn các cụ tổ về trước thì tôn là thượng tổ và cao tổ vẫn thờ ở các đền miếu từ trước


Cụ tổ Ma Khê là người tài đức song toàn, từ nhỏ đã bộc lộ nhiều khả năng xuất chúng. 
Dòng họ Ma phát triển qua bao đời hiện nay có số lượng rất đông, sinh sống ở khắp cả nước. Chính vì vậy, từ năm 1902 trở đi, các các cao niên trong dòng họ đã họp lại và thống nhất chia nhỏ thành ba nhóm chính để tiện cho việc gặp gỡ và cúng tế tổ tiên. Nhóm trưởng (là nhóm của ông Bảo ) giữ ngọc phả, nhóm thứ hai giữ thanh đao thờ và nhóm thứ ba giữ ngựa gỗ của cụ tổ. Cho đến nay, ngựa gỗ đã không còn nhưng ngọc phả và thanh đao thì vẫn được lưu giữ tại đền Trù Mật.

Năm 18 tuổi, ông đã thay cha giữ chức tộc trưởng đứng đầu bộ tộc Tày núi Đọi. Đến đời Hùng Vương thứ 18, gặp lúc trong nước có giặc, ông đã mang dân binh Ma tộc về giúp vua Hùng đánh giặc, lập nên nhiều chiến công lớn, được Hùng Duệ Vương yêu mến và phong chức Đại tướng quân. 

Sau đó, ông được giao nhiệm vụ trấn thủ đất Phong Châu, đóng quân ở ngã ba sông Bạch Hạc. Với nhiều công lao to lớn, Ma Khê được Hùng Duệ Vương thứ hai phong đến chức Phụ Quốc Ma Vương Đại Thần, Đại Tướng Quân và triệu về triều đình giúp vua trị nước an dân. 

Nhân dân bộ tộc núi Đọi rất tự hào về ông và dần dần người ta tự đổi tên vùng đất mình sống thành đất Ma Khê. Bất cứ ai, đi đến đâu chỉ cần nói là người vùng Ma Khê thì thiên hạ cúi đầu nể phục. 

Trải qua hàng nghìn năm, vùng đất này được mở rộng và thành tên Ma Khê. Đến thời đất nước chia nhiều quận huyện thì gọi là huyện Ma Khê, có triều đại đổi thành huyện Hoa Khê, và cuối cùng là cái tên Cẩm Khê như ngày nay. 

Sau đời cụ tổ Ma Khê thành danh, có nhiều công lao giúp rạng danh vua Hùng, họ Ma đã lui về ở ẩn và chuyên tâm làm nông nghiệp.Cụ tổ Ma Khê là một trong bốn vị tướng quốc nổi tiếng thời đại Hùng Duệ Vương. Ba vị còn lại bao gồm Cao Sơn, Quý Minh và Nguyễn Tuấn. Tuy nhiên, do dòng họ Nguyễn và dòng họ Cao chưa tìm thấy ngọc phả của mình nên trên danh nghĩa thì dòng họ Ma vẫn được ghi nhận là dòng họ lâu đời nhất Việt Nam cho đến nay.

Đến đời thứ 43 của dòng họ, Ma Xuân Trường (930 - 966) đã lại một lần nữa giúp dòng tộc họ Ma trở nên rạng danh với nước nhà. Đó là vào thời điểm khi nhà Ngô tan rã, đất nước ta rơi vào loạn 12 sứ quân. 
Vùng phía Bắc lúc này do một người là Kiều Thuận cai quản với một vị tướng dưới quyền là Ma Xuân Trường. Trong loạn chiến, khi Kiều Thuận bị thương, Ma Xuân Trường đã kịp thời giải cứu và đưa cả họ tộc chạy lên vùng Tuần Quán, Yên Bái và tạ thế tại đây. 

Hiện nay, ở Yên Bái vẫn còn di tích đền thờ ông. Sau khi lên ngôi, Đinh Bộ Lĩnh đã không truy cứu Kiều Thuận mà còn phong danh hiệu Trung quân ái quốc và ban cho dân lập đền thờ tại TX. Phú Thọ ngày nay. 

Cụ tổ Ma Khê là một trong bốn vị tướng quốc nổi tiếng thời đại Hùng Duệ Vương. Ba vị còn lại bao gồm Cao Sơn, Quý Minh và Nguyễn Tuấn. Tuy nhiên, do dòng họ Nguyễn và dòng họ Cao chưa tìm thấy ngọc phả của mình nên trên danh nghĩa thì dòng họ Ma vẫn được ghi nhận là dòng họ tồn tại lâu đời nhất ở Việt Nam cho đến nay. 
Ông Bảo tự hào cho biết: "Sau nhiều nghiên cứu và trải qua các cuộc hội thảo được thẩm định bởi nhiều nhà sử học nổi tiếng trong nước đã công bố thì đến năm 2015, nếu như không có dòng họ nào tìm được ngọc phả, dòng họ Ma sẽ là dòng họ duy nhất được công nhận là đã tồn tại từ thời vua Hùng. Đây là một vinh dự lớn cho dòng họ Ma ở Việt Nam". 

Ông Bảo lần giở những trang chữ viết tay nắn nót gọn gàng xúc tích ghi đầy đủ tên, năm sinh, năm mất của 79 đời dòng họ Ma tồn tại ở Việt Nam từ xưa đến nay. Ông cho biết: "Đến đời cháu nội tôi hiện giờ là đời thứ 79 của dòng họ. Cũng may thời chiến tranh, khi các bản gốc của gia phả bị thất lạc thì thân sinh của tôi là cụ Ma Văn Thực (1917 - 2004) đã kịp chuyển tải tất cả các thông tin sang chữ quốc ngữ. 

Đến đời tôi, khi được giao giữ trọng trách tộc trưởng đã rút kinh nghiệm hơn, tôi đem sao lưu gia phả thành nhiều cuốn và phát cho các chi nhánh dòng họ Ma ở Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái... 

Nhiều điển tích xung quanh dòng họ Ma vẫn tồn tại ở khắp vùng Phú Thọ và các tỉnh miền núi phía Bắc lân cận từ Yên Bái, sang Tuyên Quang, Lào Cai,Hà Giang .. 

Họ Ma khi phát triển hưng thịnh nhất thời Hùng Vương cũng đã xây dựng được thành lũy gọi là Ma Thành. Ngày nay vẫn còn một quãng dài gần 1km từ đầu ghi xe lửa đường vào đền Trù Mật xuôi xuống đến nhà máy bột sắn Phú Thọ. Nếu nhìn kỹ vẫn còn nhận rõ hình chân thành cổ Ma Thành. 

Trong thị xã Phú Thọ, khi nhiều người đào giếng và móng xây nhà vẫn còn thấy những viên gạch cổ to bằng viên đá ong nung chín như sành. Đó chính là dấu tích của gạch xây trên tường thành còn sót lại. 

Để tránh từ Ma, nhiều tên đất tên sông thời này được đổi sang Mè, nay vẫn còn làng Mè, chợ Mè, bến sông Mè... Tất cả những chứng tích đó đã giúp củng cố vào gia phả của dòng họ Ma và thêm khẳng định đây là dòng họ đã hình thành và tồn tại từ thời Hùng Vương mở nước.
Hiện nay ở đền Trù Mật, TX. Phú Thọ - nơi thờ tộc trưởng thứ 43 của dòng họ Ma là Ma Xuân Trường vẫn còn lưu giữ những cuốn sách đã ngả màu thời gian. Chất giấy cổ từ ngàn xưa đã có phần mủn mục, có cảm giác như chỉ chạm nhẹ tay vào cũng sẽ làm cho tất cả vỡ tan hết. Bởi thế, những gì là lịch sử, là ngọc phả ở nơi đây còn sót lại được người dân nhất là con cháu dòng họ Ma vô cùng nâng niu, gìn giữ và trân trọng. 

Nhà nghiên cứu sử học Đào Duy Anh đã từng gọi truyền thuyết về Ma Khê của dòng họ Ma là "truyền thuyết khuyết sử". Nhưng với dòng họ Ma nói riêng thì câu chuyện truyền thuyết ấy lại có ý nghĩa vô cùng to lớn và là niềm tự hào của mỗi người con dòng họ. 

Ông Ma Ngọc Bảo cho biết: "Hiện nay, tồn tại một sự việc đáng buồn, đó là: Nhiều người thuộc dòng họ Ma, nhưng do các cụ sinh sống trước đây hiểu biết còn hạn chế đã nghĩ rằng họ Ma là xấu, là xui xẻo nên đã đổi thành họ Mai… Tuy nhiên, lịch sử một dòng họ vẫn còn đầy đủ ngọc phả chứng nhận đã có từ thời Hùng Vương là một niềm tự hào. Mỗi người dòng họ Ma trên đất nước Việt Nam hãy đừng quay lưng với chính niềm tự hào của mình

Dòng họ duy nhất còn giữ ngọc phả từ thời Hùng Vương

Cụ Ma Văn Thực (1917-2004), thân sinh của ông Bảo, vừa theo Hán học, vừa theo Tây học, là người được cha mình là cụ Ma Văn Thị (1878-1950) giao cho giữ tộc phả và hàng năm lo việc cúng tế giỗ chạp tổ tiên.

Ông Ma Ngọc Bảo tiếp tục chia sẻ: “Thời chiến tranh, các bản gốc của gia phả bị hủy hoại hoặc thất lạc. Nhưng cha tôi đã kịp chuyển thành chữ quốc ngữ” . Sau này ông Bảo sao ra nhiều bản để gửi cho các chi nhánh dòng họ Ma ở Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang

trong dư địa chí miền trung du Phú Thọ. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Phú Thọ, Nguyễn Hữu Nhàn cho biết: “Truyền thuyết về dòng họ Ma gắn liền với thời Hùng Vương thứ 18, đồng thời cũng gắn liền với những ngôi đền thờ, tên núi, tên sông nay vẫn còn tại tỉnh Phú Thọ. Đó là đền Kim Giao thờ ông Ma Khê, tại xã Văn Khúc, huyện Cẩm Khê. Tương truyền bộ tộc người Tày họ Ma dưới chân núi Đọi Đèn ở đây đã triệu tập binh mã giúp Hùng Vương đánh thắng giặc, giữ yên bờ cõi cho nước Văn Lang”.

Thời điểm ấy, họ Ma xây thành trì của riêng mình, lấy tên là Ma về dòng họp lâu đời nhất Việt Nam Thành, nhưng để tránh từ “ma” trong tiếng người Việt nên gọi là thành Mè. Hiện nay ở thị xã Phú Thọ vẫn còn những dấu tích có tên chợ Mè, bến (sông) Mè…

Trên đây là một số thông tin cơ bản về dòng Ma họ lâu đời nhất Việt Nam ,các bạn có thể tìm hiểu thêm một số tài liệu  để có một cách nhìn nhận khái quát phát và đúng và đây cũng là một niềm tự hào của những  người mang dòng họ lớn này


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét