Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2022

LÀM THẾ NÀO ÔNG CHA TA CẮM CỌC XUỐNG SÔNG BẠCH Đằng???

 Làm thế nào ông cha ta cắm được những chiếc cọc to đùng thù lù, dài ngoằng nhọn hoắt xuống lòng sông Bạch Đằng để chống giặc?



Ngày trước hồi học lịch sử, thì chưa ai nói kỹ về việc cắm cọc cả, nên lúc ấy tôi nghĩ là chắc là huy động nhiều người rồi cứ thế vùi xuống tầm 1 tuần là xong thôi.


Ôi nhưng mà không nhé. Mỗi cái cọc dài từ 2-3m lận, đường kính béo lú mề luôn, khoảng 25-30cm, cọc lại còn làm từ gỗ lim. Mà gỗ lim thì là cụ tổ của cứng và nặng rồi. Nó không dễ như việc bạn cắm cây đũa vào miếng giò tẹo nào.


Cắm hàng trăm cái cọc như thế ở một phạm vi rộng như vậy, mà sông Bạch Đằng nước chảy rất xiết, bơi còn khó nói gì đến hò dô nhau khuân cái cọc múp rụp cắm xuống.


Chưa kể đến việc cọc phải được đặt nằm nghiêng khoảng 45 độ để khi thủy triều rút, lực đâm từ cọc lên thuyền giặc sẽ tối đa nhất. Ouch, nghĩ đã thấy đau 


Các vồ đóng cọc (Cục gỗ to nặng hình lập phương dùng để thả xuống đầu cọc, giúp cọc lún xuống)  đã được tìm thấy vào các năm 1976 và 1984, lúc ấy, các nhà khảo cổ và nghiên cứu lịch sử đã đưa ra giả thuyết về việc sử dụng ròng rọc. Ròng rọc được sử dụng để đưa vồ lên cao, sau đó thả xuống cho cọc lún vào lòng sông.


Nghe rất hợp lý cho tới khi họ nhận ra rằng đầu cọc là đầu nhọn. Thả vồ xuống như thế thì nó sẽ dẹp lép như con tép. Với cả nếu cắm xuống rồi mới vót nhọn đầu cọc thì pha xử lý này quá là cồng kềnh.


Sau đó, tác giả Vũ Xuân Xuê đưa ra một giả thuyết như sau:


Việc cắm cọc sẽ theo nguyên lý: cọc giữ dây, dây giữ cọc, dây giữ thuyền.


Cọc được thả xuống sông, đầu được buộc dây chắc chắn, phần thân trên của cọc sẽ buộc ván để 4 người đàn ông to khỏe đứng lên, lắc và nhấn cho cọc chìm sâu dần. Sau đó tháo ván ra, kéo dây để đầu cọc nghiêng về hướng rút của thủy triều, sau đó bịt đầu sắt vào cọc. Như vậy có thể cắm được hàng chục cọc mỗi ngày.


Giả thuyết này được nhiều người ủng hộ, tuy vậy đây cũng mới chỉ là giả thuyết.


Ông cha ta ngoài việc rất thông minh trong tính toán khoảng cách cọc gỗ với đáy nước, giữa cọc gỗ với nhau, lại còn am hiểu về thủy động học. Bảo sao giặc nào đến thì cũng phải chạy rẽ đất (thỉnh thoảng rẽ cả nước).


Cre Giáo sư xoay

Thứ Tư, 16 tháng 11, 2022

ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc

 1. Lịch sử ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc



Trong quá trình củng cố và mở rộng về tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, yêu cầu đặt ra là phải có sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế, xã hội, phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương. Để thực hiện được điều đó phải hướng công tác Mặt trận về cơ sở, từng khu dân cư, từng gia đình. Tạo cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết từ cá nhân, gia đình, khu dân cư đến cấp xã, phường, huyện, tỉnh. Đó chính là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam. Xuất phát từ thực tiễn đó, mà ngày hội đại đoàn kết ở Việt Nam ra đời.

Nhằm phát huy truyền thống Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, năm 1986 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI đã quyết định lấy ngày 18/11/1930 – ngày Đảng chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất để làm ngày truyền thống của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ đó đến nay, hằng năm cứ đến ngày 18/11, Mặt trận đã đề ra chương trình, nội dung và các hình thức hoạt động phong phú, đa dạng nhằm ôn lại truyền thống lịch sử của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam.

Ngày 1/8/2003, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra Nghị quyết số 04/NQ/ĐCT-MTTW về việc tổ chức “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc" và quyết định lấy ngày 18/11 hàng năm làm ngày tổ chức Ngày hội đại đoàn kết ở khu dân cư nhằm tiếp tục xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thời kỳ mới.

2. Ý nghĩa của ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc

Sau khi có quyết định của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ngày hội đại đoàn kết toàn dân ở khu dân cư ngày càng được quan tâm hơn, diễn ra với nhiều hình thức phong phú, phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Ngay cả những vùng nông thôn, vùng miền núi, ngày hội càng mang nhiều bản sắc văn hóa và tập trung đông đảo quần chúng Nhân dân tham gia và thực sự trở thành ngày hội của toàn dân tộc.

Ngày hội đại đoàn kết đã tôn vinh những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Thông qua ngày hội, các nét văn hóa đặc sắc của các tầng lớp dân cư, các dân tộc trên địa bàn sẽ tiếp tục được bảo tồn và phát huy. Thêm vào đó là tinh thần đoàn kết, gắn bó, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn. Từ đó, góp phần thực hiện tốt các phong trào “Xây dựng gia đình văn hóa”, “Xây dựng văn hóa ở khu dân cư”, xây dựng các gia đình điển hình có “Ông bà mẫu mực, con cháu thảo hiền”… Cùng với việc xây dựng nếp sống mới là việc đấu tranh chống lại các hủ tục lạc hậu: mê tín, dị đoan. Xóa bỏ dần những tệ nạn trong xã hội như: rượu chè, cờ bạc, trộm cắp, ma túy, mại dâm, đánh bạc…

Ngày hội đại đoàn kết dân tộc góp phần động viên các tầng lớp Nhân dân phấn đấu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương.

Những hoạt động cụ thể của ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư là những yếu tố quan trọng, thiết thực góp phần nâng cao đời sống của Nhân dân. Đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận không nhỏ quần chúng Nhân dân được cải thiện, lối sống được lành mạnh hóa. Thông qua ngày hội, nhiều khu dân cư đã sáng tạo ra các hình thức giúp đỡ nhau như: chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mở mang ngành nghề, giải quyết việc làm, thành lập các tổ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật, giúp nhau về vốn, giống cây trồng, vật nuôi…

Ngày hội đại đoàn kết dân tộc góp phần tích cực xây dựng tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức đoàn thể Nhân dân ngày càng vững mạnh.

Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư tạo điều kiện cho việc phát huy quyền làm chủ trực tiếp của Nhân dân, góp phần thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo ra được một môi trường gắn bó, thân thiết, gần gũi giữa Đảng với Nhân dân. Giúp Đảng lắng nghe được những nguyện vọng, những phản ánh của Nhân dân trong cuộc sống. Từ đó góp phần giúp Đảng ngày càng hoàn thiện hơn nữa phương thức lãnh đạo.

Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư hằng năm đã, đang và sẽ ngày càng mở rộng và không ngừng được phát huy phong phú và đa dạng cả về hình thức tổ chức lẫn nội dung. Trách nhiệm của mỗi người dân chúng ta là cần phải tiếp tục phát huy cao độ sức mạnh đoàn kết tại địa phương để từ đó tạo nên nguồn sức mạnh chung, to lớn của cả cộng đồng, tạo động lực mạnh mẽ để sớm thực hiện thành công mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.